(vhds.baothanhhoa.vn) - Đất nước lâm nguy, họ là những chàng trai, cô gái tuổi đôi mươi, sẵn sàng hiến dâng cho Tổ quốc. Sau nhiều năm tháng cuộc đời, giữa những nhớ - quên tuổi già, ký ức về một thời hoa lửa vất vả, đau thương nhưng rất đỗi hào hùng như “thước phim” còn đọng mãi trong tâm trí những người trở về từ nơi tuyến lửa.

Uống nước nhớ nguồn - mạch ngầm chảy mãi (Bài 1): Ký ức... người trở về

Đất nước lâm nguy, họ là những chàng trai, cô gái tuổi đôi mươi, sẵn sàng hiến dâng cho Tổ quốc. Sau nhiều năm tháng cuộc đời, giữa những nhớ - quên tuổi già, ký ức về một thời hoa lửa vất vả, đau thương nhưng rất đỗi hào hùng như “thước phim” còn đọng mãi trong tâm trí những người trở về từ nơi tuyến lửa.

Uống nước nhớ nguồn - mạch ngầm chảy mãi (Bài 1): Ký ức...  người trở về

Cựu thanh niên xung phong Bùi Thị Đông giữ gìn những kỷ niệm gặp lại đồng đội.

“Khi súng nổ, trong tim là Tổ quốc, đồng đội”

Đó là khẳng định của thương, bệnh binh Nguyễn Văn Hoàn, người lính thông tin đã có những năm tháng gắn bó với tuyến lửa Quảng Trị. Ở tuổi 76, lại thêm những “di chứng” thời chiến khiến ông yếu hơn... Bằng chất giọng khàn đục nhưng rắn rỏi, ông lặng lẽ kể về những năm tháng ra trận bảo vệ Tổ quốc.

Đầu xuân năm 1971, thông tin chàng thanh niên Nguyễn Văn Hoàn (xã Quảng Thịnh, huyện Quảng Xương cũ, nay là phố Quang Trung 2, phường Hạc Thành) chuẩn bị lên đường nhập ngũ khiến làng trên xóm dưới xôn xao. Nhiều người không tin, một chàng trai 21 tuổi, thân người cao thẳng nhưng nặng chưa đến 40kg có thể cầm súng?! Vậy nhưng, sau những dòng “huyết thư” và chữ ký vào đơn tình nguyện, Nguyễn Văn Hoàn khoác ba lô lên đường, trở thành tân binh. Sau thời gian huấn luyện và đào tạo, mùa xuân năm 1972, từ ga Thị Long (Thanh Hóa) người chiến sĩ trẻ cùng đồng đội lên đường vào chiến trường Quảng Trị, trở thành lính của Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 48B, Sư đoàn 320B.

Tháng 3/1972, sông Bến Hải mùa khô cạn dòng, Nguyễn Văn Hoàn cùng đồng đội vượt sông đánh vào một cao điểm thuộc đất Gio Linh. Trận mở đầu thắng giòn giã tiếp thêm động lực cho người lính hăng hái chiến đấu. Sau đó, đơn vị được lệnh đánh tiếp vào Cồn Tiên. Thừa thắng, những người lính Bộ đội Cụ Hồ đánh lên Quán Ngang - nơi có trung đoàn pháo binh của địch. Sau chiến thắng này, quân ta thu được nhiều vũ khí và nhu yếu phẩm. Đến tháng 4/1972, bộ đội ta đánh vào đồi Tân Bính ở phía Tây sân bay Ái Tử.

Một lần hành quân, quân ta bị địch phục kích gây nhiều thương vong... Cứ 3 người một cáng, luân phiên nhau khiêng đồng đội bị thương nặng. Trong chiến trận, người lính có thể quên đi nhiều thứ, thậm chí hy sinh thân mình vì đồng đội...

Tháng 7/1972, đơn vị của ông được lệnh “chốt” tại cổng Nhà thờ La Vang. Ngay khi đến đây, chiến sĩ Nguyễn Văn Hoàn nhận nhiệm vụ phải nhanh chóng thông tuyến thông tin, đảm bảo thông suốt liên lạc trong đơn vị.

Đến ngày 23/7/1972, Tiểu đoàn 3 được lệnh rút về Dinh Tỉnh trưởng Quảng Trị. “Nắng tháng 7 bỏng rát, chiều chạng vạng, những đám mây màu đỏ in hằn trên nền trời, soi bóng xuống dòng sông Thạch Hãn. Tôi được lệnh phải gấp rút có mặt ở khu nhà chỉ huy để kiểm tra, đảm bảo thông tin trước khi vào trận đánh lớn. Vì thế tôi đi trước, đồng đội đi sau. Khi phát hiện quân ta di chuyển, kẻ địch cho máy bay ném bom càn quét, bộ đội ta không có hỏa lực yểm trợ nên rất khó phản công... Trận đó, nhiều đồng đội đã phải nằm lại bên bờ sông Thạch Hãn... Ngày 25/7/1972, khi đang cùng đồng đội chiến đấu, tôi bị mảnh pháo găm xuyên cằm. Khi được đưa vào bệnh viện dã chiến, bác sĩ còn nói đùa “mảnh pháo thật biết tránh người”, bởi chỉ một chút nữa thôi, mảnh pháo đó đã có thể khiến tôi phải nằm lại chiến trường Quảng Trị. Trong chiến tranh, nhiệm vụ của người lính là chiến đấu, còn chuyện sống, chết không ai có thể nói trước”, cựu chiến binh Nguyễn Văn Hoàn trầm ngâm nhớ lại.

Sau 3 tháng chữa trị, tháng 10/1972, cựu chiến binh Nguyễn Văn Hoàn được rút về Gio Linh, tại đây ông cùng đồng đội chiến đấu ở “cao điểm 132”. Cũng trong những ngày tháng ác liệt ấy, ông vinh dự được kết nạp Đảng. Về sau, ông tham gia chiến đấu ở Cửa Việt.

“Trong chiến trận, mọi thứ diễn biến rất nhanh và khốc liệt, ngay vào lúc mà người ta có thể không ngờ tới. Với tôi, khi tiếng súng nổ, pháo đã sáng, bản thân luôn tỉnh táo. Khi đó, trong tim là Tổ quốc, đồng đội và trước mắt là kẻ địch”.

Năm 1985, với những vết thương trên cơ thể và sức khỏe suy giảm, Đại úy Nguyễn Văn Hoàn ra quân, trở về quê nhà. Ông là bệnh binh hạng 2/3 và thương binh hạng 3/4. Ngẫm lại những tháng ngày khói lửa đã qua, ông tâm tình: “Khi đất nước lâm nguy, ra trận chiến đấu phụng sự Tổ quốc là trách nhiệm thiêng liêng. Trước mưa bom bão đạn, không ai dám chắc ngày trở về. Với tôi, được trở về, được sống những năm tháng đất nước hòa bình là may mắn, hạnh phúc. Thương nhất là đồng đội đã hy sinh...”.

“Những năm tháng ấy, bước chân tuổi trẻ không mỏi...”

Trong những cuộc chiến tranh vệ quốc của dân tộc, có một lực lượng tham gia hỗ trợ chiến đấu cực kỳ quan trọng, sẵn sàng xung kích, “chia lửa” với bộ đội, đó là thanh niên xung phong.

80 tuổi, cựu thanh niên xung phong Bùi Thị Đông (thôn Tiến Thành, xã Hoằng Lộc) vẫn minh mẫn trong những chuyện kể tuổi trẻ và những năm tháng tham gia mở đường cho xe ra tiền tuyến.

Theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, tháng 7/1965, tuổi chưa tròn đôi mươi, cô gái Bùi Thị Đông tham gia lực lượng thanh niên xung phong. Sau một thời gian, đội của bà nhận nhiệm vụ “đánh đá” làm đường, giữ thông suốt bến phà Ghép. Hơn một năm sau đó, từ bến phà Ghép, Bùi Thị Đông và đồng đội hành quân vào Quảng Bình.

Uống nước nhớ nguồn - mạch ngầm chảy mãi (Bài 1): Ký ức...  người trở về

Được trở về sau những năm tháng chiến đấu vệ quốc là hạnh phúc với CCB Nguyễn Văn Hoàn.

“Hơn một tháng hành quân ròng rã, vượt núi, băng đèo, qua suối, tôi và đồng đội cũng đến được Phong Nha - Kẻ Bàng. Việc hành quân bí mật, tránh kẻ địch phát hiện nên thường di chuyển vào ban đêm. Có những tối, chúng tôi vượt qua đến 30 khe suối... Không ai thở than. Chỉ có những lời động viên nhau gắng sức vì Tổ quốc” - bà Bùi Thị Đông kể lại.

Đến ngã ba Đường 20 thì dừng chân, bắt tay vào nhiệm vụ “đánh đá” làm đường khu vực bến phà Xuân Sơn. Tại đây, lực lượng thanh niên xung phong của Thanh Hóa và Quảng Bình cùng nhau hợp sức vừa làm đường, sửa đường, giặc ném bom bắn phá ở đâu, ta sửa ở đó. Những cầu Cổ Giang, cầu Bùng, cầu Lâm Trạch không khuất phục trước sức mạnh bom đạn kẻ thù.

“Đặc biệt, trong những năm tháng ấy, bến phà Xuân Sơn trên đất Quảng Bình ví như “tọa độ lửa, túi đựng bom”. Nhằm cắt đứt con đường huyết mạch vận tải của quân và dân ta chi viện cho chiến trường miền Nam, kẻ địch cho máy bay ném bom bắn phá suốt ngày đêm. Một nhiệm vụ được đặt ra, phải “mở đường” sau núi cho xe qua. Đội chúng tôi có 13 người với những dụng cụ thô sơ đã cùng nhau “tuyên thề” hoàn thành nhiệm vụ... Có những điều, giữa thời bình là không thể nhưng trong những ngày tháng vệ quốc, vì Tổ quốc thiêng liêng, luôn có những kỳ tích được tạo ra”, bà Bùi Thị Đông, chia sẻ.

Sống trong những ngày tháng đó mới hiểu, ranh giới sinh - tử rất mong manh. Có những sự ra đi của đồng đội, khiến người ở lại mãi không thể quên. Như vào đêm 19/5/1967, sau một ngày mở đường mệt nhoài, mọi người chìm vào giấc ngủ, máy bay giặc ném bom đánh sập hầm khiến 5 người hy sinh... Nói rồi, bà rẽ mái tóc bạc phơ, trên đỉnh đầu có một vết sẹo lõm mà đến tận bây giờ, mỗi khi trái gió trở trời lại đau nhức, kể tiếp: Ngày 18/5/1968, máy bay địch oanh tạc khiến 4 người đồng đội hy sinh. Tôi bị mảnh pháo găm vào đầu, bị thương nặng, mất nhiều máu...

Đi qua chiến tranh, có một niềm tự hào mà bà Bùi Thị Đông vẫn thường kể cho cháu con nghe. Trong những ngày tháng gian lao mà anh dũng ấy, nữ thanh niên xung phong vinh dự được đứng trong hàng ngũ của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Trở về quê nhà với những vết thương trên cơ thể trong lúc tham gia phục vụ chiến đấu, cựu thanh niên xung phong Bùi Thị Đông được công nhận và hưởng chính sách như thương binh.

Những năm tháng không quên của cựu chiến binh Nguyễn Văn Hoàn, cựu thanh niên xung phong Bùi Thị Đông chỉ là hai trong số hàng triệu người dân Việt Nam đã dâng hiến máu xương chiến đấu vì Tổ quốc, góp phần tạo nên bản hùng ca bất tử của dân tộc.

Bài và ảnh: Thu Trang



 {name} - {time}

 Trả lời

{body}
 {name} - {time}
{body}

0 bình luận

Ý kiến của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng. Vui lòng gõ tiếng Việt có dấu
Chia sẻ thông tin với bạn bè!
Tắt [X]